News

6/recent/ticker-posts

Truyện ngắn: Những ngôi nhà dưới chân Gò Gác - NTP


NHỮNG NGÔI NHÀ DƯỚI CHÂN GÒ GÁC
(Truyện ngắn)

            1. Bố tôi là một Đảng viên, một Đảng viên thực thụ. Tư tưởng vửng vàng, lý luận sắc bén…điều đó tôi phải công nhận, nhiều người cũng phải công nhận. Vậy mà bố tôi lại tin vào một thứ có lẽ hơi trái với tính cách của ông. Đó là “luật nhân quả”. Ông cho rằng nó không đơn thuần là một thứ gì đó mang màu sắc tôn giáo mà nó là LẼ THƯỜNG
            Xóm tôi ở nằm gọn dưới chân gò Gác. Đến giờ tôi cũng không hiểu vì sao nó lại có tên như vậy. Gò Gác chỉ cao hơn mặt đường chừng hai ba chục mét. Ngày trước, người ta thường trồng sắn để chống đói, bây giờ, khi sắn chỉ là một thứ để ăn chơi thì người ta trồng keo và bồ đề. Những đồi cây hơn mười năm tuổi xanh bạt ngàn và đêm ngày rì rào với gió. Còn quanh rìa là những dãy chè xanh. Nhà ông tôi cũng có một vạt mà đến giờ vẫn còn, thi thoảng mẹ tôi vẫn lên hái lá về nấu nước uống. Nhà tôi quay mặt về gò và chỉ cách gò một con đường tỉnh lộ. Phía sau nhà là dãy gò Năm chân và gò Sui – là nơi mà sáng sáng tôi thường ngắm mặt trời dậy. Chiều, ông mặt trời lại từ từ vùi mặt vào đỉnh gò Gác. Nhìn lên phía ấy tôi lại có một cảm giác gì đó rất khó tả, gần như là một nỗi sợ hãi đã bắt đầu từ thưở nhỏ. Có lẽ là do ngày bé tôi thường được nghe những câu chuyện li kì liên quan đến ma mãnh mà ông tôi hay kể. Ông bảo, trên đỉnh gò xưa kia có một cái miếu, không biết thờ ai. Đến thời bố tôi thì nó chỉ còn là một dấu tích mờ nhạt và đến thế hệ chúng tôi thì tuyệt nhiên không còn thấy gì nữa. Nhưng trên ấy lúc nào cũng âm âm u u. Nhất là vào buổi đêm tĩnh lặng. Những đêm nhìn lên đỉnh gò, chỉ thấy một miền đen huyễn hoặc, tôi cứ tưởng tượng ra nào là những vệt sáng màu xanh lét, những cái bóng dật dờ, những tiếng kêu nửa gần, nửa xa,...nhưng rốt cục tất cả chỉ là tưởng tượng. Tôi chả nhìn thấy gì cả. Thế mà nỗi sợ đến giờ vẫn không thể nào xóa được. Nhưng bố tôi lại bảo bao nhiêu năm nay có một điều mà bố tôi thấy nghiệm, đó là mỗi lần nghe có tiếng chim lợn kêu trong đêm là y như rằng xung quanh khu vực này sẽ có người chết. Điều đó thì tôi chịu bởi tôi chưa biết con chim lợn nó như thế nào và tiếng kêu của nó ra sao. Bởi tôi rất ít khi lên gò. Có chăng chỉ là những ngày còn học lớp năm, lớp sáu, tôi thường cùng lũ trẻ trong xóm lên đỉnh gò nhặt củi khô và kiếm những cây chè nội về đun nước uống. Có khi cả buổi chiều chỉ kiếm được một bó con con mang về. Bởi đã lên đến đấy thì chẳng đứa nào nghĩ đến chuyện lấy củi nữa. Trên đỉnh gò có một giao thông hào gần như còn nguyên vẹn. Mãi sau này tôi mới được nghe kể đó là nơi mà dân quân xã bắn máy bay. Cũng là nơi mà người anh thứ hai của mẹ tôi đã ngã xuống sau khi hứng trọn một băng đạn của đồng đội sau một sự không may. Sau này khi bà tôi còn sống, nhiều lúc tôi vẫn thấy bà tôi nhìn lên phía ấy, đôi mắt gần như không còn khóc được nữa. Cuộc đời bà tôi là một chuỗi những mất mát. Năm bảy mươi hai, bà tôi chịu liền ba cái tang. Đau đớn. Ông tôi bị trúng bom, chết trên miệng hầm. Bác cả hy sinh ở chiến trường B, đến giờ vẫn không tìm thấy hài cốt, bác hai hy sinh khi gác máy bay trên đỉnh gò Gác, bác ba tôi vốn yếu đuối đã bị thần kinh sau những cú sốc nặng nề ấy. Thế nhưng bà tôi vẫn đứng vững. Một nghi lực phi thường.
            Bây giờ, xóm đã khác nhiều. Nó được mọi người gọi bằng một cái tên rất oách: Xóm đại học. Bởi đa phần con em trong xóm đều “thoát ly”. Đó là tư tưởng chung của hầu hết các gia đình nơi đây. Ai cũng muốn con em mình có tý bằng cấp, có công ăn việc làm ổn định và mở mày mở mặt với đời. Nhất là để thoát khỏi cái cảnh sống nửa thành thị, nửa nông thôn. Bởi xóm nằm ở nơi giao nhau giữa một đầu là những công chức nhà nước với một đầu là những nông dân thực thụ, quanh năm chân lấm tay bùn. Điều đặc biệt là hầu như các gia đình trong xóm đều là anh em với nhau, không xa thì gần. Thế nhưng lại chẳng nhà nào thật sự thân thiết với nhà nào. Vì vậy mà tình cảm còn xa hơn cả những người hàng xóm thông thường. Ở đây, đàn bà hay “buôn dưa” nhưng đàn ông thì hầu như chẳng bao giờ ngồi với nhau hay đến nhà nhau chơi, kể cả những ngày lễ tết. Họ có vẻ kình nhau, dù không ra mặt. Đằng sau những cánh cổng sắt là những sự tính toán, trăm ngàn sự tính toán và đấu đá. Nó ngấm ngầm, nó dai dẳng. Nó là một loại mọt ngày đêm gặm nhấm, một loại axit có khả năng ăn mòn khủng khiếp. Và thứ bị tàn phá ở đây chính là cái sợi dây liên kết các gia đình trong cái xóm đang trên đà “trí thức hóa” này. Gò Gác gần như đã bị lãng quên.
            Thế mà không ai nhận ra điều đó, nói đúng hơn là không kịp nhận ra điều đó. Bởi hầu hết thời gian người ta đã dành cho việc kiếm tiền và bới móc những cái không tốt của nhau rồi bàn luận về nó. Bố tôi có vẻ là người am hiểu một cách tường tận lịch sử của tất cả các nhà trong xóm.
            Cái lão Thời thì “dê” nhất đời, lão đã từng cặp với cả con dâu, thế mà anh con trai không hề hay biết?! Rồi em trai lão – lão Vụ thì bỏ cả vợ với bốn đứa con gái để theo một bà có tiếng “hâm” để kiếm đứa con trai. Đến khi bà kia có mang, mà chả biết có phải là của lão hay không lão cũng hả hê lắm. Lão bảo thế là lão đã có thằng con trai chống gậy khi lão xuống mồ. Giờ thì sướng. Vợ con bỏ ráo vào Nam. Còn lão thì ngày ngày cơm bưng nước rót cho “vợ mới”. Thiên hạ cười bảo lão nuôi cò. Mặc. Lão vẫn cứ cam tâm tình nguyện làm một ông chồng đảm đang nhất cuộc đời này.
            Sát nách nhà tôi là nhà lão Thiện “hấp”. Lão hấp nặng. Lão sợ chơi với tất cả mọi người, sợ đến nhà hàng xóm và sợ hàng xóm đến nhà. Vì thế lão cách ly với thế giới bên ngoài bằng một hệ thống giao thông hào có một không hai ở cái đất này. Chập tối, lão đóng cái cổng thật chắc, ai gọi cũng coi như điếc. Thế nên mấy lấn con gái lão suýt chết vì trúng gió. Đấy là mấy lần vào lúc nửa đêm, cả xóm bị dựng dậy bởi tiếng kêu gào của lão, vượt “giao thông hào” chạy vào thì thấy đứa con gái cả mắt đang trợn ngược, mồm há hốc. Mấy người có kinh nghiệm bèn lấy nước tiểu xoa khắp người, rồi lấy cao con hổ day một lúc nó mới tỉnh. Xong, lão cũng chẳng cảm ơn được một lời, cũng chả thèm mở cổng buổi tối bao giờ. Người ta bảo nhà lão mặn đất, dưới “giao thông hào” nhà lão có rất nhiều mả, mà lâu nay không có ai đến nhận. Lão lại là người vô sư vô sách, không hương khói bao giờ. Không những thế, lão còn báng bổ người chết. Ai đời lão lại cứ ỉa đái quanh nhà chứ nhất định không làm hố tiêu. Liệu có phải vì thế mà tính lão khác người? Vợ lão không thể sống chung với lão nên đã bao nhiêu năm nay hai vợ chồng mỗi nguời một nơi. Lão có năm người con, một bỏ đi giày da trong Sài Gòn, hai người thì chết đuối dưới suối. Giờ chỉ còn hai nhưng thật lạ là ai cũng thành đạt. Cả hai đều học đại học thể dục thể thao, giờ người chị đã là giảng viên ở Đại học Sư phạm Hà Nội, người em cũng sắp ra trường. Cả hai đều nương tựa váo ông bác bên ngoại, nghe đâu làm to lắm. Còn lão thì không thể sống với ai. Lão bỏ xóm đi cách đây vài năm. Hình như là về với vợ sau khi bán sạch tất cả những gì lão có.
            Lão Thiện vừa đi thì lão Thố dạt về thế chỗ. Lão là công nhân về hưu. Mảnh đất lão ở bây giờ là do lão lừa được của lão Thiện hấp. Nó chỉ đáng giá bằng một con xe 81 cũ kỹ. Lão gạ gẫm thế nào mà lão Thiện lại sang ngang cho lão năm mét mặt đường lấy con xe ghẻ chả đáng gì ấy. Lão là đối nghịch của lão Thiện. Nhà ai lão cũng ghé vào một tý, cười nói oang oang. Các bà thì chúa ghét. Họ bảo lão là…chúa dê. Già rồi mà đến nhà ai cũng chỉ mặc độc cái quần đùi ngắn cũn cỡn. Nhất là lão toàn xuất hiện những lúc nhà người ta có khách như là để hóng chuyện. Nhiều khi chủ nhà cũng phát ngượng. Còn lão thì vô tư như chả có chuyện gì. Trong xóm có chị Hiền bỏ chồng mười mấy năm nay đã bị lão gạ gẫm mấy lần. Lão bảo, lão thích gái quê vì gái quê chung thủy, ít lăng nhăng. Có lần, thấy chị Hiền gánh phân ra ruộng, lão đứng sau nhà, con mắt cú vọ nhìn chị đầy dâm dật:
      - Em ơi! Làm vừa vừa thôi kẻo teo hết cái ti của anh bây giờ.
            Vốn chẳng phải loại vừa, người đàn bà đặt gánh phân xuống, một tay chống nạnh, một tay chỉ thẳng mặt lão, xơi xơi. Thế mà lão cũng chả chừa. Có lần, chị Hiền đang ngồi nhặt lá mai cho người ta (đấy là một nhà chuyên sấy lá mai và măng tre Bát Độ để chuyển về Phú Thọ, nghe đâu là để xuất khẩu sang Đài loan), lão lò dò mò sang, đúng lúc chỉ có mình chị, lão đến gần rồi lấy chân gẩy gẩy dưới mông chị, thều thào: “nhá! nhá!”. Chị không nói một câu, hôm sau tìm gặp vợ lão. Thế là từ đó lão bị vợ con cấm cửa, cũng chả dám đi đâu nữa.
            Đối diện nhà lão Thố bây giờ là nhà lão Tuất. Lão Tuất vốn không phải người ở đây. Nghe đâu quê lão ở Hưng Yên. Hai vợ chồng lão đều là công nhân về hưu, không bao giờ quan hệ với bất kỳ gia đình nào trong xóm. Đó là một thế giới độc lập và khép kín. Những chuyện trong ngôi nhà ấy không hề vượt qua bức tường mảnh chai chi chít. Nó nằm trong ngôi nhà ấy như một thứ dây leo chung thủy, rậm rạp nhưng không bao giờ leo vào giàn lạ. Có lẽ nó sẽ mãi mãi nằm đó và trở thành một thứ huyền thoại kỳ quặc nếu như không có một ngày con gái lão – cô giáo Hương nổi tiếng ngoan ngoãn bị chồng bỏ sau ngày cưới được hai tháng. Té ra, cô Hương bị chồng phát hiện ra đang mang bầu đứa con không phải của anh ta. Mọi người bảo, tại vợ chồng lão cấm đoán ghê quá nên mới ra cơ sự này. Chuyện ấy làm rầm rộ câu chuyện của các bà lên một thời gian rồi cũng lắng xuống. Ai cũng coi như đó là một bài học dạy con và cũng chẳng ai dám nói mạnh gì nữa. Bởi ai cũng biết chuyện gì cũng có thể xẩy ra. Nhất là những bà có con gái. Bà nào cũng lo ngay ngáy như ôm bom nổ chậm trong nhà…
            Những câu chuyện trong xóm tôi như một cuốn tiểu thuyết cứ dày lên từng ngày, từng ngày. Và bố tôi là một nhân chứng sống cho rất nhiều chuyện đã xảy ra nơi đây. Ông bảo cuộc đời ông là một bước sa cơ. Và rất nhiều lần tôi nhìn thấy sự nuối tiếc trong đôi mắt ông. Nhưng đổi lại, ông lại có một thói quen khác hẳn với những người đàn ông trong xóm. Đó là thói quen chiêm nghiệm. Có lẽ điều đó khiến ông trở thành một người sâu sắc, ở chỗ ông rất giỏi trong việc chiều lòng mọi người. Nhiều khi tôi thấy “sợ” bởi ông quá nghệ thuật. Nhất là cái điệu cười Tào Tháo. Biết chắc mười mươi là ông rất ghét, nhiều khi đến độ căm ai đó nhưng trước mặt họ ông vẫn có thể cười giòn tan, đầy hồ hởi. Thế nhưng đổi lại, bố tôi lại có vẻ là người hơi bị lạc hậu. Ông giống như người diễu hành bị lỡ nhịp, nhiều khi đến vụng về trước những thay đổi quá nhanh của cuộc sống. Có lẽ vì thế mà nhà tôi bị xếp vào loại nghèo trong xóm. Nhưng ông là người từng trải, lại có chút bằng cấp, đối nhân xử thế không chê vào đâu được nên người ta cũng nể. Ông rất tin vào “luật nhân quả”. Ông bảo mọi thứ đều có lý do, ngọn nguồn của nó. Chẳng có gì là tự nhiên đến cả. Nói rồi ông nhìn sang phía nhà ông Thống, ông bảo đấy chính là một minh chứng cho thứ luật đời vừa công bằng, vừa ác nghiệt ấy.
            2. Nhà ông Thống đối diện với nhà tôi. Hai nhà vốn là họ hàng với nhau. Bố tôi và ông Thống lại chạc tuổi nhau. Đến giờ hai mái đầu đã bạc. Nhưng họ là hai đối cực, có lẽ đến chết vẫn sẽ mãi mãi là hai đối cực. Bên ngoài họ gần như không bao giờ mâu thuẫn, không bao giờ to tiếng cãi vã hay lời qua tiếng lại. Nhưng họ trái ngược nhau ở suy nghĩ, ở tính cách, ở lối sống. Con cái ông Thống cũng chạc tuổi chúng tôi thế mà chẳng bao giờ chơi được với nhau. Có lẽ sự xa cách từ thế hệ trước đã kéo thế hệ sau về hai phía. Chúng tôi không , mà hình như là chưa bao giờ chơi chung.
            Cho đến một ngày xóm đại học đang bình lặng bỗng nhiên bị dựng ngược lên bởi hung tin: Thằng Tứ - con trai ông Thống bị xe đâm. Cú va chạm quá mạnh, quá bất ngờ đã lấy đi mạng sống của đứa con cầu tự. Xóm đại học vốn như mặt hồ đang phẳng lặng bị ai đó quăng một hòn đá nặng, mang theo một đợt sóng hoang mang dữ dội, không khí ảm đạm bao trùm khắp xóm.
Thằng Tứ vốn là đứa con cầu, con ước của nhà ông Thống, của cả họ Trịnh ở cái xóm này. Xóm tôi vốn có truyền thống sinh con một bề. Họ Trịnh ở đây không hiểu vì sao lại hiếm con trai đến vậy. Mấy người anh em nhà ông Thống ai cũng sinh toàn con gái. Từ ông Tự, là ông anh cả cho đến ông Thành là em út cũng không có nổi một mụn con trai. Chỉ duy nhất nhà ông Thống có được thằng Tứ. Vì thế mà nó trở thành thứ quý giá nhất của cả dòng họ. Ai cũng nâng niu nó như một thứ pha lê dễ vỡ.
            Vậy mà nó vỡ thật. Cả xóm ai cũng xót xa bởi nó vốn là một đứa đẹp trai và học giỏi, lại ngoan ngoãn. Chả bù cho ông bố tẹo nào. Tôi còn nhớ như in những ngày còn nhỏ, tôi hay sang nhà ấy mua rượu. Bởi bố tôi hay uống rượu mà nhà ông Thống lại nấu rượu từ rất lâu rồi. Nhà ấy lúc nào cũng có một con chó to đùng buộc phía trong cánh cổng sắt, mà cánh cổng thì lúc nào cũng đóng, bọn trẻ chúng tôi chả bao giờ dàm bén mảng đến. Dường như đó là một thế giới hoàn toàn xa lạ đối với chúng tôi. Ngại nhất là mỗi lần sang phải đứng ngoài gọi thật to có khi đến cả chục câu mới thấy có người ra mở cổng. Chủ nhà có khi là vợ chồng ông Thống, có khi là một trong hai đứa con gái, chẳng bao giờ vồn vã. Bước qua cánh cổng, tôi chỉ biết cầm cái chai sáu năm lũi cũi đi theo sau. Cuộc mua bán diễn ra chóng vánh:
      - Bán cho cháu nửa lít ạ.
      - .................................
      - Cháu xin.
      - ...................................
      - Cháu về đây ạ.
      - ...................................
            Hóa ra trong suốt thời gian ấy chỉ có tôi nói. Nói với sự im lặng. Nhưng thật may là đôi bên vẫn hiểu nhau. Cái khó hiểu là không hiểu vì sao gia đình ấy lại có lối sống kỳ lạ như vậy. Mà cũng thành quen, ban đầu chúng tôi còn thấy khó hiểu và khó chịu nhưng dần dần cũng thấy chẳng sao cả.
            Nhà ông Thống xưa kia cũng thuộc vào loại có trong xóm. Bố tôi bảo những ngày mà cả xóm nheo nhóc, khổ sở vì miếng cơm manh áo thì nhà ấy vẫn đều đặn cơm ba bữa. Nhưng tuyệt nhiên không cho ai vay mượn cái gì bao giờ. Ngay đến cả nhà lão Hoạch, là em trai của lão Thám – bố đẻ ông Thống cũng đố mà kiếm được của nhà ông anh cái gì. Nhũng ngày đói kém triền miên, vợ lão Hoạch lại như cái máy đẻ, chẳng làm ăn gì được. Lão Hoạch thì như con mèo hen, suốt ngày cắm mặt vào đống nan tre để đan cái rổ, cái rá. Bảy tám miệng ăn trông cả vào sức vóc của mấy người con lớn. Bữa ăn của cả nhà chỉ là sắn và rau rừng. Những lúc vợ lão Hoạch đẻ đái thì phần cơm của người đẻ cũng không có gì khác ngoài mấy miếng sắn luộc. Thế mà ông anh cũng không động lòng. Lão bảo đời cua cua máy, đời cáy cáy đào. Anh em thật đấy nhưng có lẽ lão nghĩ cần phải tiết kiệm mọi thứ, kể cả tình cảm – là thứ mà chẳng ai có thể hỏi vay hay mượn của lão được cả.
            Nhưng trước nay đời có bao giờ lấy hết của ai thứ gì. Nhà lão Hoạch nghèo rây nghèo rớt là thế nhưng lại rất giàu con trai. Dù chẳng có cơm mà ăn, chẳng có áo mà mặc nhưng con lão ai cũng vạm vỡ, sức vóc lắm. Đến giờ cũng vậy, những đứa trẻ ở thế hệ thứ ba cũng vẫn đầy sức sống, chúng lớn lên như cây rừng, nước da ngăm đen nhưng trông đứa nào cũng phầm phập chứ không èo uột như những đứa cháu lão Thám. Bố tôi bảo chúng hoang dã và tự nhiên, đầu óc chúng không có chỗ dành cho những toan tính, thù hằn, ganh ghét và đố kị. Đó là thứ mà đời ông, đời cha chúng để lại. Đến giờ họ cũng chỉ nghĩ đến việc làm cho đủ ăn, dư giả thì xây cái nhà nho nhỏ. Thế là được, tuyệt nhiên không nghĩ đến chuyện bon chen ngoài xã hội. Mấy đứa trẻ được bố mẹ cho đi học cũng đơn thuần chỉ là cho biết cái chữ, với lại còn nhỏ chưa làm được gì thì cũng chỉ đi học. Tiền ăn không đóng, học phí cũng không. Đến bữa chả nhẽ cô giáo lại đuổi. Nhân cách nhà giáo ai làm như vậy được. Mà nhà nước lại đang coi giáo dục là quốc sách, vì mấy đồng học phí mà đuổi chúng thì mất hết thành tích thi đua của lớp, của trường. Thôi thì thây kệ chúng nó. Trẻ con nó chả biết gì, có trách thì trách cha mẹ chúng nó không biết nghĩ. Nói chuyện với các bà trong xóm, bà Hoạch bảo:
      – Ối giời! Cứ cho chúng đi học vậy thôi chứ mong gì được làm ông này bà nọ. Cứ có cơm đổ vào mồm là được chứ chữ với nghĩa có mài ra mà ăn được đấy. Làm to làm bé cũng chả đến lượt mình.
            Cũng vì những trái ngược về suy nghĩ và lối sống như thế nên những ngăn cách mà từ đời cha , đời ông chúng để lại đến giờ vẫn không thể xóa được. Dù là anh em họ hàng với nhau nhưng dường như họ lại ở hai thế giới, hai tầng lớp đối nghịch nhau. Lão Thám luôn cho rằng mình thuộc tầng lớp trên, những người như gia đình em lão thuộc tầng lớp dưới, nghèo, hèn, khổ sở, ti tiện và đáng khinh. Cái khoảng cách ấy như ngày càng rộng mãi ra, càng sâu mãi xuống. Và có lẽ rằng họ không có ý định khắc phục những lỗ hổng đó.
            Cũng bởi cái suy nghĩ tự tôn mà lão Thám không bao giờ muốn người khác hơn mình cái gì. Ngày bố tôi có quyết định đi du học bên Liên Xô, lão chép miệng:
Chuông khánh còn chẳng ăn ai
Nữa là mảnh chĩnh vứt ngoài bờ ao.
            Lão cho rằng nhà ông tôi nghèo hèn, bố tôi thoát ly được đã là một điều khó tưởng rồi lấy đâu có chuyện được đi nước này nước nọ. Thế mà bố tôi đi thật. Năm năm sau bố tôi về, nhà ông tôi vẫn vậy, chỉ có một điều thay đổi là bố tôi có thêm ba người em, có nghĩa là nhà ông tôi có thêm ba miệng ăn và cái khổ sở lại tăng thêm đến mấy lần. Ông tôi phải bán từ những chiếc com – lê, những mảnh vải mà bố tôi mang về làm quà cho cả nhà. Khi mà cái ăn còn là một gánh nặng thì những thứ kia trở nên vô nghĩa, cả chiếc xe máy con thỏ - thứ mà bố tôi phải dành dụm, khổ sở bao lâu mới kiếm được cũng phải bán nốt. Khi đó, bố tôi đã quay về làm phiên dịch cho chuyên gia Liên Xô trên mỏ. Nhưng sức bố không thể kéo cho cả một gia đình thoát khỏi những cơn đói triền miên. Và cuộc đời bố tôi đã rẽ sang hướng khác: bố tôi đi bộ đội, xuất ngũ về quê thì ông tôi bắt lấy vợ. Lại một vòng nghèo đói mới, quẩn quanh và triền miên. Trong lúc đó, gia đình lão Thám vẫn phong lưu như ngày nào. Ông con cả lão là lái xe trong nhà máy graphit, ông Thống lúc ấy cũng là công nhân nhà máy. Nhà lão Thám lại bán hàng, cái cửa hàng không to lắm nhưng cũng đủ để vợ lão Thám thấy có thể khinh khỉnh với mọi người. Có lần bà Hoạch xuống vay bà Thám bát gạo, tưởng chị em dâu thì có thể thông cảm, chia sẻ được với nhau. Ai ngờ, bà Thám bĩu môi, ngần ngừ một lúc mới chạy vào trong buồng múc ra lưng cái bát con. Đưa rồi còn nói dấm, nói dứt. Bà Hoạch cầm bát gạo đầy tủi nhục, nuốt nước mắt mang về đổ vào nồi độn với một rổ sắn duôi. Lũ con nhìn thấy hạt gạo thì tíu tít, vừa ăn, vừa tranh nhau chỗ cơm ít sắn. Trong khi đó thì vợ lão Thám phải nuôi đến mấy con chó mới hết cơm thừa. Mấy năm sau, lão Thám đổ bệnh. Ngày đó tôi còn bé nên không biết lão mắc bệnh gì. Chỉ nhớ rằng người lão càng ngày càng teo đi như miếng tóp mỡ, nhưng cái chân thì ngày càng nở ra, đến quái dị. Lão nằm liệt ba năm thì chết. Mẹ tôi bảo những người ăn ở bất nhân thường bị giời đày như vậy. Muốn sống không được, muốn chết cũng chẳng xong. Như lão Thám, lúc khỏe mạnh thì chả sao. Đến khi bị bệnh nằm đấy không làm chủ được mình, đái ỉa cũng không biết. Vợ lão thì hắt hủi, đay nghiến như hầu của hủi. Lão chết đi là một sự giải thoát. Có lẽ đó là thứ đặc ân cuối cùng mà lão được hưởng.
            3. Đến ông Thống cũng chẳng khác gì. Ai cũng bảo nhà ấy sao khinh khỉnh lạ. Cái cổng sắt lúc nào cũng đóng im lìm, lạnh lẽo. Không bạn bè, không hàng xóm. Thỉnh thoảng chỉ thấy mấy người anh em bên vợ đến chơi chốc lát. Tết nhất cũng không thấy bà Thống đến nhà ai. Người ta có muốn đến cũng thấy ngại.Mẹ tôi bảo ngày bà Thống mới về làm dâu nhà ấy cũng không phải là người lạnh nhạt như vậy. Nhưng cái nếp nhà ấy đã vậy, làm sao sống khác được.
            Đến giờ thì thành quen. Với lại cuộc sống giờ cũng thay đổi nhiều. Nhà nào cũng có một cái cổng và cổng nhà nào cũng đóng. Người ta bận làm ăn, bận kiếm tiền. Hơi đâu mà để ý đến nhau. Tình cảm cũng phai nhạt đi ít nhiều. Bà Thống bảo với mẹ tôi:
      – Nhà tôi với nhà cậu mợ có khi nào được rảnh rỗi mà ngồi buôn chuyện như người ta. Mợ xem, anh đi hàng từ sớm đến tối mịt mới về, tôi thì suốt ngày quanh quẩn với đàn lợn, bọn trẻ thì học hành tối ngày, lớ sớ là tôi đánh tuốt xác.
            Rồi hỏi chuyện chúng tôi học hành. Mẹ tôi chỉ than thở việc học hành của chúng tôi tốn kém, không như thời bố mẹ tôi. Ông bà có đẻ ra một lũ con cũng chỉ lo nhiều đến cái ăn. Còn bây giờ, hết cấp ba rồi mà không thi vào được cái trường nào thì khốn khổ. Thế rồi bà Thống kể:
      – Con Tâm nhà tôi học sư phạm toán bên Thái Nguyên sắp ra trường rồi. Tôi tính lúc nào nó ra trường, đi dạy, tôi sẽ dầu tư cho nó mở một lớp dạy thêm ở nhà. Giờ cái môn của nó cũng đang cần, tự nó sẽ biết cách làm sao cho học sinh đến học. Mợ có con học hành mợ cũng biết rồi đấy, ai chả muốn con mình điểm cao.
Kể cũng đúng thôi. Ngày chị Tâm – con gái cả của ông bà còn học cấp ba, ngày nào ông bà Thống cũng phải cắt cử nhau đưa chị xuống tận thị xã học thêm. Bởi ông bà nghĩ chỉ có xuống dưới thị xã mới có thầy giỏi. Còn trên này thì thực chất chỉ đánh trống ghi tên. Miễn sao có tên trong danh sách học thêm của thầy cô là được. Ông bảo sau này con gái ông sẽ phải lấy lại tất cả những gì mà ông bà đã mất.
            Mấy tháng sau, chị Tâm ra trường. Nghe đâu phải mất ba chục mới có một chân trong trường cấp ba của huyện. Thế là còn rẻ chán. Mấy tháng sau nữa thì chị mở một lớp dạy thêm. Ban đầu học sinh đến học có tới vài chục người, dần dà thì thưa dần. Năm sau thì dẹp hẳn. Có lẽ vì là giáo viên trẻ nên chưa có nhiều kinh nghiệm. Ông bà Thống thất vọng ra mặt. Mấy tháng sau nữa thì chị lấy chồng – một anh làm ở văn phòng ủy ban huyện. Hôm gặp tôi, chị hỏi:
      - Em xin được việc chưa?
      - Còn dài chị ạ.
      - Ừ. Cái thời người khôn của khó. Cứ tưởng về miền núi xin việc dễ dàng. Chỗ nào cũng có người canh cửa em ạ. Thế em đi cửa nào?
            Thấy tôi có vẻ tần ngần, chị không hỏi nữa mà lái sang chuyện khác.
      - Nghe nói em có người yêu rồi?
      - Dạ.
      - Ở đâu thế? Mà hai đứa yêu nhau từ trong trường à?
      - Dạ. Người Hà Tĩnh chị ạ.
            Thế rồi chị than thở:
      - Đến được với nhau thì tốt. Như chị giờ mới thấm. Lấy nhau vội vàng, Nhạt thếch. Giả thử mình không có công ăn việc làm gì thì chưa chắc nó đã lấy mình. Vì công việc cả thôi.
            Liệu có phải thế không? Lẽ nào mọi thứ lại xoay vần đến mức ấy. Trước mặt tôi không phải là người con gái dịu dàng, đầy phấn chấn như ngày nào mà là một con người hoàn toàn khác. Một kẻ đầy hoài nghi và bất mãn, chẳng còn tin gì nữa cả. Liệu đến một ngày nào đó tôi có như chị?
            Chị Huyền – người con thứ của ông Thống cũng đã tốt nghiệp trung cấp mầm non, dạy tư dưới thị xã. Cả nhà ông lúc ấy chỉ phải nuôi cậu quý tử. Ai cũng bảo nó cao số. Mấy lần bị xe tông mà chỉ sứt sát cái khuỷu tay hay cái đầu gối. Ông bà Thống cưng cậu con vàng ngọc lắm. Được cái nó ngoan nên ai cũng quý. Nhưng người ta bảo những người như vậy khó giữ. Cái ngày định mệnh đến khi nó mới là sinh viên năm nhất trường đại học Thái Nguyên, hôm ấy nó về ăn cưới ông cậu. Tiệc tan, nó chở một người bạn của cậu về. Chiếc xe gặp nạn gần đoạn đường rẽ vào nghĩa trang thị trấn. Một chiếc xe tải đi qua đã kéo theo hai mạng người, chiếc xe máy tan nát. Người ta phải dùng túi nilon để hốt óc nó mang về. Cả xóm bàng hoàng. Thầy bói bảo bà Thống đẻ con ra chỉ biết nuôi mà không biết giữ. Thế là nhà ông Thống tuyệt tự.
            Tôi ra trường cả năm rồi mà vẫn chưa xin được việc. Đúng là cái số long đong lận đận. Hôm mang hồ sơ tốt nghiệp về, bố tôi vui lắm. Mân mê cuốn luận văn của tôi, ông bảo:
      - Con Dương thế là tạm rồi. Thằng Trung cố được như chị. Còn xin việc là chuyện của bố. Cứ có bằng cấp, xin đâu chả được.
            Thế nhưng mọi chuyện lai không hề đơn giản như vậy. Điều đầu tiên tôi làm là vác hồ sơ lên tận Simacai – một huyện nghèo của tỉnh Lào Cai xin việc. Họ bảo hồ sơ đẹp, lại là đối tượng Đảng. Người yêu tôi đi cùng vì hai đứa đã quyết tâm về một mối. Anh là Đảng viên bảy năm rồi, lại là sĩ quan dự bị. Hai đứa cầm hai tấm bằng đại học tràn trề hy vọng. Nhưng rồi một tháng, hai tháng rồi một năm qua đi. Mọi hy vọng đã hoàn toàn trượt dốc. Bố tôi chắc đã sốt ruột lắm nhưng để trấn an, ông vẫn bảo xin việc là chuyện lâu dài, không phải một sớm, một chiều là được. Mẹ tôi có vẻ thực tế hơn. Mỗi lần nhắc đến chuyện này bà lại trách:
      - Tao đã bảo rồi mà bố mày có nghe tao đâu. Bây giờ ở đâu chả vậy, cứ nghe bố mày thì chỉ có thất nghiệp con ạ.
            Nhưng biết làm sao được. Đi đâu người ta cũng từ chối, bảo là không có nhu cầu, nơi nào nhận thì họ lại bảo chờ. Tôi bắt đầu mất niềm tin. Những tháng ngày chờ việc trôi qua nặng nề. Tôi sợ ra đường. Đơn giản vì sợ bị…hỏi thăm. Ngôi nhà trở thành nơi trú ẩn mà chỉ khi có việc bất khả kháng tôi mới phải rời nó. Cánh cổng sắt như lạnh dần. Cái màu sơn cũ kĩ, bạc phếch đã bong tróc nhiều chỗ giống như cánh cổng của một ngôi nhà bị bỏ trống nhiều năm. Tự dưng nhìn sang phía bên kia đường, tôi bắt gặp một cánh cổng cũng gần như nguyên trạng: lạnh ngắt và cũ kĩ. Một cảm giác ớn lạnh mơ hồ chạy qua trong trí não. Lẽ nào…
            Bữa cơm trưa nay bố tôi uống có vẻ nhiều hơn mọi bữa. Ông ăn rất ít, chỉ nhâm nhi mấy củ lạc rang. Chợt ông bảo:
      - Đêm qua ở xóm mình lại có tiếng chim lợn kêu. Nghiệm lắm.
            Rồi ông lẩm nhẩm suy tính xem trong xóm có cụ nào đau ốm không. Nhìn dáng vẻ ông lúc ấy có một điều gì đó rất lạ, bí ẩn và mê muội. Có lẽ lại ở cái xóm này thôi vì ông bảo tiếng chim lợn đêm qua nghe gần lắm. Ở ngay đỉnh gò Gác chứ chẳng đâu xa, mà đã ba đêm liền ông nghe thấy. Nhất định không thể nào sai được./.

                                       

                                                                              NGUYỄN THU PHONG



Các bạn có những tác phẩm thơ văn muốn đăng lên blog thì hãy gửi qua mail cho mình nhé.
E-mail: thichvotinh@gmail.com